Ứng dụng CNTT trong ngành du lịch: Doanh nghiệp "mạnh" hơn cấp quản lý!
Bài viết của: Trần Võ Đại Nguyên
Ngày cập nhật: 03/09/2008

Đánh giá về ứng dụng CNTT của ngành Du Lịch, theo báo cáo kết quả khảo sát của trung tâm Tin Học- tổng cục DL, ứng dụng ở các cấp quản lý cấp tỉnh, thành (sở) chỉ đạt mức trung bình, việc khai thác phục vụ cho công tác quản lý còn thấp, cơ sở dữ liệu (CSDL) còn hạn chế, bảo mật chưa được chú trọng so với khối doanh nghiệp.


Theo tổng cục Du Lịch, năm 2007 DL thế giới đạt 898 triệu lượt khách (tăng 6,5% so với 2006), dự kiến đạt 1,6 tỷ lượt vào 2020; thu nhập DL 2007 đạt 733 tỷ USD. Năm 2007, hơn 41% khách DL tại Tây Ban Nha đăng ký tour qua mạng và tại Mỹ, số người đăng ký tour qua mạng bắt đầu vượt số người đăng ký trực tiếp. Với hơn 1,4 tỷ người dùng Internet hiện nay, ứng dụng CNTT là nhân tố tạo sức cạnh tranh cho các nước đang phát triển có tiềm năng DL cạnh tranh bình đẳng với các cường quốc DL. So với năm 2006, năm 2007 DL Việt Nam đón hơn 4,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 17,2% và hơn 19,2 triệu lượt khách nội địa, tăng 9,7%, thu nhập xã hội từ DL ước đạt 56.000 tỷ đồng, tăng 9,8%.

Cấp quản lý: Ứng dụng ở mức độ trung bình


" Mức độ ứng dụng CNTT ở khối DN sâu và rộng hơn tại các cấp quản lý về DL do chủ động hơn về cơ chế, chính sách, tài chính ".

Ngành DL Việt Nam cũng đã ứng dụng CNTT ở mức độ trung bình, phần lớn chưa khai thác hiệu quả tối đa các lợi ích của CNTT trong công tác quản lý, hoạt động kinh doanh (KD). Theo một điều tra của Trung Tâm Tin Học - tổng cục Du Lịch, năm 2007 nhận thức về lợi ích của CNTT không còn là rào cản cho việc ứng dụng tại các cơ quan quản lý DL cấp tỉnh, thành phố (sở). 100% các sở đã trang bị máy tính, trong đó: nhiều máy nhất ở Đồng Tháp (33 chiếc); ít máy nhất ở Phú Thọ (4 máy); 77.5% sở có mạng nội bộ với 1 - 2 máy chủ; 24 sở kết nối với mạng cấp trên...

Theo kết quả khảo sát có 47/48 sở kết nối Internet, phần lớn theo dạng băng thông rộng ADSL. Trong đó: 4 sở có công chức truy cập Internet ít nhất 1 lần/tuần, dưới mức 50%; 84% sở được điều tra có tỷ lệ công chức truy cập Internet hàng ngày khá cao, trên 80%. Song, truy cập Internet chủ yếu để trao đổi email và tìm kiếm thông tin (98% và 100%), giao dịch với công dân chỉ chiếm 17% và nghiên cứu khoa học chiếm 42%.

30/48 sở được điều tra hiện đã có hoặc đang xây dựng website cho riêng mình (chiếm 63%). Tỷ lệ này còn thấp so với khả năng sẵn sàng kết nối Internet của các sở. Có 21 sở xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử (chiếm 44%), trong đó chủ yếu là: quản lý kế toán tài chính (60%), quản lý công văn (6%) và thư viện điện tử (6%).

Về nhân lực CNTT: 15 sở (31%) có bộ phận chuyên trách về CNTT, 8 sở có lãnh đạo chuyên trách quản lý CNTT (17%). Theo thống kê chưa đầy đủ, nhân sự CNTT chiếm 6,5% tổng số nhân viên, công chức các sở. Vấn đề bảo mật thông tin đã được quan tâm, song mới chỉ ở mức cơ bản, có 17/48 sở sử dụng các công cụ an toàn thông tin. Kinh phí hạn chế, cơ chế, chính sách chưa cụ thể là những nhân tố cản trở ứng dụng CNTT.

CẦN CHUẨN ỨNG DỤNG CHUNG

Những ý kiến của ông Lê Tuấn Anh - giám đốc trung tâm Thông Tin DL, tổng cục DL về ứng dụng CNTT trong ngành DL VIệt Nam

“Mức độ ứng dụng CNTT trong ngành DL hiện ở bước khởi đầu. Theo chỉ số sẵn sàng ứng dụng CNTT (Vietnam ICT Index): năm 2005, ngành DL xếp hạng khá 8/26 bộ, ngành; năm 2006 là 12/36 bộ, ngành (do thành lập một số bộ, ngành mới). Ứng dụng CNTT trong ngành DL hiện chia thành 3 cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp DN. Ở cấp trung ương, hệ thống cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, đầu tư phát triển ứng dụng tương đối tốt. Tuy nhiên môi trường, chính sách để thúc đẩy ứng dụng chưa được quan tâm, chưa có ban chỉ đạo ứng dụng cấp bộ, chưa có chiến lược phát triển cụ thể cho ngành. Cấp tỉnh, tuy lãnh đạo nhận thức rõ lợi ích CNTT thể hiện qua việc đầu tư cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực nhưng mức độ chưa được đồng đều giữa các vùng, miền. Cấp DN, việc ứng dụng tương đối khá do nhu cầu gắn liền với hoạt động KD, DN chủ động về cơ chế chính sách, tài chính.

Nhìn chung, việc ứng dụng CNTT của ngành DL còn hạn chế, chưa được phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cấp, còn mang tính tự phát và nhỏ lẻ, chưa tập hợp tất cả nguồn lực để tạo nên hình ảnh chung cho DL Việt Nam, chưa thống nhất một chuẩn chung về trao đổi dữ liệu. Nếu xây dựng được chuẩn chung này, DN không phải đầu tư mà sẽ tận dụng giới thiệu hình ảnh, sản phẩm từ những chiến dịch quảng bá của Nhà Nước, có môi trường trao đổi dịch vụ, KH giữa các DN. Với các cấp quản lý, dựa trên số liệu thống kê có thể phân tích thị trường để hoạch định chính sách phát triển DL.

Hiện nay, các tổ chức DL thế giới khuyến cáo các cơ quan quản lý DL nên ứng dụng hệ thống quản lý điểm đến DMS (Destination Management System). Một hệ thống DMS hoàn chỉnh hiện nay được xem là mức độ ứng dụng CNTT cao nhất của ngành DL. Qua DMS, du khách có thông tin đầy đủ để so sánh, lựa chọn dịch vụ. DN DL trao đổi thông tin nghiệp vụ, cơ quan quản lý khai thác số liệu qua sự tương tác trao đổi giữa người sử dụng - DN DL - du khách tiềm năng. Để có được mô hình này, việc kết hợp giữa khu vực công (quản lý) và khu vực tư (DN cung cấp giải pháp) là cần thiết. Ngành DL Việt Nam đang nghiên cứu đầu tư theo từng bước, từ website đã xây dựng sẽ phát triển thành cổng thông tin DL, sau đó xây dựng DMS theo chuẩn quốc tế.

Để hỗ trợ thúc đẩy ứng dụng, tổng cục DL đang đẩy mạnh thông tin quảng bá trên hệ thống website, sẵn sàng tiếp nhận thông tin từ các tỉnh, đưa thông tin của DN miễn phí và cung cấp giải pháp cho DN có nhu cầu. Tổng Cục cũng nghiên cứu hoàn thiện môi trường chính sách tạo thuận lợi thúc đẩy ứng dụng CNTT, giữa năm 2008 sẽ từng bước ứng dụng TMĐT cho các dịch vụ DL...”


Các doanh nghiệp ứng dụng tốt hơn

So với cấp quản lý, ứng dụng CNTT trong khối DN DL được đầu tư mạnh hơn, khai thác sâu hơn cho hoạt động của DN. Nguyên nhân là DN đã ý thức rất rõ lợi ích của ứng dụng CNTT trong hoạt động của mình, thể hiện ở số máy trạm và máy chủ trang bị, sử dụng. Theo kết quả khảo sát 52 DN DL, trung bình mỗi DN có 62,7 máy trạm và 2,3 máy chủ. Trong đó: tổng công ty DL Sài Gòn – SaigonTourist có tới 25 máy chủ, khách sạn Caravelle có 20 máy chủ. 63% DN có từ 50-500 máy trạm, còn lại có dưới 20 máy trạm. Tất cả máy tính đã được sử dụng cho: soạn thảo văn bản 100%; hỗ trợ nghiệp vụ 98%; truy cập Internet 98%; kết nối với mạng cấp trên 37%; sử dụng thư điện tử 100%; phục vụ công tác quản lý 90%. Chỉ có 2 DN không có mạng nội bộ (chiếm 3,8%), còn lại đều đã có mạng LAN có dây (90%) hoặc LAN không dây (52%).

100% các DN truy cập Internet để trao đổi email, tìm thông tin: 96% giao dịch với đối tác; 90% nghiên cứu thị trường và 54% sử dụng dịch vụ tài chính, ngân hàng. Tỷ lệ dùng Internet để thanh toán trên mạng đạt 27%. 49 DN đã có website. Tỷ lệ này khá cao, chứng tỏ các DN đã có ý thức về vai trò của CNTT trong quảng bá sản phẩm DL.

Có 33/52 DN xây dựng CSDL, trong đó chủ yếu là quản lý: nhân sự 44%; khách hàng (KH) 42%; điều hành tour 37%; kế toán tài chính 93%. Các DN DL thực sự chú trọng bộ phận chuyên trách CNTT gồm: 63% DN có bộ phận CNTT; 33% có lãnh đạo quản lý CNTT. Vấn đề bảo mật thông tin cũng đạt mức cao: 56% có tường lửa; 85% sử dụng các chương trình diệt virus. Một số DN cho rằng, thiếu kinh phí và nhân sự chuyên trách gây cản trở ứng dụng. Tuy nhiên, số này không quá 19%.

ĐẶT PHÒNG KHÁCH SẠN QUA MẠNG TOÀN CẦU

GenaRes (www.genares.com) là công ty cung cấp hệ thống đặt phòng qua mạng toàn cầu (Global Distribution System – GDS) và công cụ đặt chỗ trực tuyến (Web Booking Engine - WBE). Người dùng GDS và WBE sẽ dễ dàng đặt phòng khách sạn từ khắp thế giới.


Tạo 1 tài khoản trên GDS, khách sạn có thể đưa lên GDS đầy đủ thông tin liên quan như: lịch sử hình thành khách sạn, giá phòng cho từng loại phòng, các loại giá khuyến mãi..., hình ảnh không giới hạn của khách sạn. GDS kết nối khách sạn đến 4 kênh phân phối toàn cầu là Sarbe, Galileo, Worlspan, và Amadeus. Mỗi kênh có thế mạnh ở từng châu lục khác nhau. WBE đặt đường link trên website của khách sạn. Du khách thực hiện đặt phòng ngay tại website của khách sạn mà không cần thông qua các website DL hay các đại lý DL nào khác. Du khách chỉ có thể thực hiện đặt phòng khi cung cấp số thẻ tín dụng thật và hạn sử dụng của thẻ.


Dịch vụ của GenaRes mang đến nhiều thuận lợi như: Kết nối trực tiếp thông suốt theo công nghệ mới nhất với hệ thống đặt phòng qua mạng toàn cầu (GDS); Điều khiển 100% trên Internet; Kết nối với tất cả những website và đại lý DL quan trọng trên toàn cầu; Dịch vụ của GenaRes được thiết kế, xây dựng và duy trì theo công nghệ ASP nên thông tin của khách sạn không lệ thuộc bên thứ ba; Giao diện thân thiện, dễ dùng; Cấu trúc mở; Chuyển giao các giao dịch đặt phòng đến khách sạn qua email, fax hay qua hệ thống quản lý khách sạn (PMS); Hệ thống cập nhật tức thì sự điều chỉnh thông tin phòng trống của khách sạn; Đầy đủ chuỗi tính năng báo cáo dễ dàng nhất.

Sử dụng GDS, thông tin khách sạn tự động được kết nối đến hơn 1.000 websites DL bao gồm 100 websites DL nổi tiếng nhất thế giới (
www.expedia.com, www.travelocity.com, www.zuji.com...) và hơn 600.000 đại lý DL trên toàn thế giới. Đồng thời, khách sạn cũng thực hành thương mại điện tử (e-commerce): nhận đặt phòng của khách DL khắp toàn cầu.
Tại Việt Nam, GenaRes được phân phối độc quyền bởi TRG International từ 1/2006. Hiện, ở thị trường Việt Nam, đã có gần 70 KH gồm các khách sạn, resort, tàu DL từ 3 – 5 sao lựa chọn GenaRes làm nhà cung cấp GDS và 72% trong số đó sử dụng WBE. Đồng thời, GenaRes cũng hoàn toàn có khả năng cung cấp sự hỗ trợ, tư vấn qua TRG International.


Trần Võ Đại Nguyên (tạp chí Thế Giới Vi Tính - PC World Việt Nam)
In bài